QUẢN LÝ LÀ QUẢN LÝ HÀNH VI


Nâng cao hiệu quả thông qua tác động quá trình tâm lí hành vi

Quản lý có nhiều khái niệm khác nhau có thể:
Quản lý là lập kế hoạch, điều phối thực hiện, đo lường và đánh giá các hoạt động.
Quản lý là quản lý các con số.
Dưới góc độ nhân sự, tôi có thêm một quan điểm quản lý là tác động khoa học vào hành vi thông qua truyền thông, tổ chức.
Như vậy, muốn quản lý chúng ta phải xác định quá trình của một hành vi và các nhân tố tác động để ứng dụng nó trong quản lý như thế nào. Muốn quản lí thay đổi, nhiều khi chúng ta cho rằng ý thức là nguyên nhân của hành vi không đạt kì vọng. Thực tế thì, để hình thành ý thức, phải trải qua các hành vi và kết quả đó được lưu giữ trong tiềm thức. Để có ý thức tốt chúng ta phải đợi quá lâu có thể một thế hệ. Nhưng quản lý thay đổi không cho phép chúng ta chờ đợi vậy trong quản lý nhân sự chúng ta loại bỏ nguyên nhân của hoạt động không đạt mục tiêu là ý thức kém. Có như vậy, chúng ta mới thấy rõ giải pháp thay đổi.
9 Nhân tố tác động để thay đổi và quản lý hành vi, thay đổi tổ chức.

1. Thông tin giác quan hiện thời
Để khởi tạo một hành vi, con người sẽ nhận được thông tin từ các giác quan có thể thông qua nghe thấy, nhìn thấy (đọc được) cảm thấy qua các giác quan khác. Khi thông tin tác động vào vỏ não nó khởi động hành vi ở giai đoạn nhận thức. Nhưng hành vi chưa diễn ra.
Một hành vi đúng hay sai lỗi có thể do thông tin giác quan hiện thời đã cung cấp thông tin sai, hoặc nhiều loạn thông tin.
Ví dụ: Bạn nhận được mệnh lệnh, chỉ dẫn và bản báo cáo tham khảo không đúng thì không thể hoàn thành công việc được.
Thông tin giác quan hiện thời giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì nó khởi tạo hành vi. Cũng chính vì thế mà trong quản lý xã hội, quản lý doanh nghiệp có nhiều ứng dụng song song. Ví dụ: Khi chắn tàu hoả qua đường sắt bao gồm các biện pháp tác động giác quan song song như sau: Barie chắn đường, đèn đỏ bảo dừng, người cầm cờ báo hiệu dừng, còi báo hiệu dừng. Hay ví dụ: Trong các nhà máy sản xuất có các biển chỉ dẫn, biển an toàn, khẩu hiệu an toàn, phân luồng giao thông, còi, đèn để đảm bảo an toàn trong sản xuất.
Nhờ có các biện pháp cung cấp song song nhiều thông tin giác quan hiện thời mà tác động mạnh đến hành vi con người phải tuân theo mục đích của người quản lý.
Hay các biện pháp 5S của Nhật cũng làm tăng thông tin giác quan hiện thời trong quản lý.

2. Tiềm thức
Tiềm thức là những gì đã nạp vào hoặc xảy ra và ghi nhận trong bộ não con người trở thành những tiêu chuẩn của hành vi. Bao gồm: Kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, quy phạm xã hội được ghi nhận, quy chuẩn môi trường sống và làm việc.
Mỗi người có thông tin tiềm thức khác nhau và vì vậy cùng một thông tin giác quan hiện thời tác động nhưng chúng ta lại thấy những người khác nhau có hành khác nhau.
Tiềm thức có vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn nhận thức của hành vi, nó đối chiếu, so sánh và thúc đẩy hành vi rõ ràng.
Muốn thay đổi hành vi, chúng ta phải tác động vào tiềm thức. Trong doanh nghiệp hoạt động này bao gồm truyền thông, đào tạo, giáo dục, thi đua… phát triển hệ thống quản lý khoa học, đầy đủ và chuyên nghiệp là căn cứ đầy đủ nhằm nâng cao kiến thức, kĩ năng và tác động chuẩn hoá hành vi của lực lượng nhân sự.

3. Động cơ 1.0
Động cơ là cái thúc đẩy hành vi hướng đến mục đích và mục tiêu. Động cơ 1.0 là động cơ đơn giản nhất mang tính sinh học, nó cũng là cấp độ thấp nhất của động cơ đáp ứng các nhu cầu sinh học, sự tồn tại được sử dụng bằng các công cụ đe doạ nhiều hơn đáp ứng. Tuy nhiên sức mạnh của động cơ 1.0 trong thúc đẩy hành vi là rất lớn.
4. Động cơ 2.0
Động cơ 2.0 là mức độ cao hơn trong việc thôi thúc hành vi. Động cơ này bao gồm những giá trị khuyến khích vật chất để thúc đẩy hành vi được thực hiện. Trong quản lý doanh nghiệp động cơ 2.0 có thể bao gồm: Tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi…
Động cơ 2.0 là động cơ của “cây gậy và củ cà rốt”.
Hiện nay, động cơ 2.0 là công cụ phổ biến để khuyến khích thúc đẩy các hành vi trong các doanh nghiệp với độ “nghiện” ngày càng tăng.
5. Động cơ 3.0
Động cơ này thôi thúc hành vi bởi sự đúng đắn của các giá trị nên làm, bổn phận, trách nhiệm, danh dự. Đối với những nhà quản lý có khoa học tâm lí và nhân văn chú trọng công tác truyền thông và giáo dục đồng thời là điển hình gương mẫu sẽ tác động rất lớn đến động cơ 3.0
Hiện nay, động cơ này cũng đang rất được chú trọng phát triển bởi tính tiến bộ của nó trong quản lý đồng thời xây dựng một môi trường nhân văn.
Sau khi thúc đẩy bởi 3 động cơ thì quá trình nhận thức hay quá trình ý chí của hành vi kết thúc chuyển sang giai đoạn 2 quá trình quyết định hay quá trình lý trí.
6. Kì vọng thoả mãn
Con người sẽ xác định các giá trị thoả mãn sau khi thực hiện hành vi xem được gì về kết quả trực tiếp, được gì về kết quả gián tiếp, giả sử các kết quả xảy ra. Khi xác định được kết quả thoả mãn là lúc mà hành vi chuẩn bị được hoàn thiện.
7. Chấp nhận rủi ro
Cùng với sự thoả mãn kết quả hành vi thì con người sẽ xác định các rủi ro của hành vi mang lại, cân nhắc mức độ hiện thực của các rủi ro, mức độ ảnh hưởng của các rủi ro đến họ.
Các rủi ro cao hay thấp cũng tác tác nhân quyết định hành vi có được thực hiện hay không.

8. Sẵn sàng chịu trách nhiệm
Khi con người xác định được kì vọng thoả mãn và rủi ro xảy ra cũn là lúc quyết định về thực hiện hành vi hình thành rõ rệt có thể: Về cơ bản có thể có các trường hợp sau:
– Kì vọng thoả mãn cao, rủi do thấp -> quyết định định hiện
– Kì vọng thoả mãn cao, rủi do cao -> quyết định định hiện hoặc không thực hiện tuỳ vào mục 2.
– Kì vọng thoả mãn thâp , rủi do thấp -> quyết định định hiện hoặc không thực hiện phụ thuộc vào động cơ và chân giá trị
– Kì vọng thoả mãn thấp , rủi do thấp -> không thực hiện

9. Chân giá trị
Chân giá trị là trình độ xã hội và hiểu biết của con người về chân-thiện-mỹ. Những quan niệm đúng sai trong gia đình, xã hội, môi trường làm việc và lối sống, nhân cách.
Chân giá trị như tác động cuối cùng lên hành vi của giai đoạn quyết định. Đặc biệt với hành vi khó khăn quyết định thì chân giá trị ảnh hưởng rất lớn.
Chúng ta có thể tác động vào chân giá trị của mỗi người thông quá truyền thông, chiến lược và văn hoá tổ chức.
Một hành động mà không đủ 2 quá trình trên hoặc không thể nhận thức hoặc không thể quyết định thì đó không phải là hành vi, chúng ta không phán quyết, không tác động được. Ví dụ: hành động của người điên được pháp luật miễn trừ.
Một hành vi sai lỗi, kém hiệu quả, không đạt mục tiêu, không như mong muốn, là người quản lý, chúng ta xác định nó do đâu trong các yếu tố trên và phải tác động để thay đổi yếu tố đó rồi hành vi sẽ thay đổi. Đồng thời, chúng ta chuẩn bị trước sữ sẵn có những tác động để hành vi diễn ra tích cực đạt mục tiêu. Quản lý thay đổi tác thay đổi các nhân tố tác động hành vi.
Trantuandai

This entry was posted in Quản lý and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s